1. Kiến thức trọng tâm
Chất lỏng gây ra áp suất theo mọi phương lên thành bình, đáy bình và các vật trong lòng chất lỏng. Áp suất chất lỏng tại một điểm phụ thuộc vào độ sâu và trọng lượng riêng của chất lỏng, được tính bằng công thức , trong đó là trọng lượng riêng của chất lỏng (N/), là độ sâu tính từ mặt thoáng đến điểm xét (m). Càng xuống sâu, áp suất chất lỏng càng lớn. Đây là nguyên nhân thợ lặn phải mặc đồ lặn chịu áp suất khi lặn sâu.
Bình thông nhau là hệ thống gồm hai hay nhiều nhánh nối thông với nhau. Khi chất lỏng đứng yên trong bình thông nhau, mặt thoáng của chất lỏng ở các nhánh có cùng độ cao. Nguyên tắc bình thông nhau được ứng dụng trong ấm nước, hệ thống cấp nước và kênh đào.
Không khí xung quanh Trái Đất cũng gây ra áp suất gọi là áp suất khí quyển. Áp suất khí quyển tác dụng lên mọi vật theo mọi phương, có giá trị khoảng Pa ở mặt nước biển. Thí nghiệm Tô-ri-xen-li đo áp suất khí quyển bằng cột thủy ngân cao khoảng 760 mm. Áp suất khí quyển giảm khi lên cao và thay đổi theo thời tiết, được dùng để dự báo thời tiết.
2. Ví dụ minh họa
Ví dụ: Một tàu ngầm lặn sâu 100 m dưới mặt nước biển, trọng lượng riêng của nước biển là . Áp suất nước biển tác dụng lên vỏ tàu là Pa. Một ví dụ về áp suất khí quyển: khi uống nước bằng ống hút, ta hút không khí trong ống ra, áp suất khí quyển đẩy nước lên ống và vào miệng, chứ không phải miệng "hút" nước lên.
3. Ghi nhớ
- Áp suất chất lỏng: ; càng sâu, áp suất càng lớn.
- Trong bình thông nhau, mặt thoáng chất lỏng ở các nhánh cao bằng nhau.
- Áp suất khí quyển khoảng Pa ở mặt nước biển, giảm dần khi lên cao.
