1. Kiến thức trọng tâm
Để tính xác suất của một biến cố theo định nghĩa cổ điển, ta thực hiện ba bước: mô tả không gian mẫu và tính ; mô tả biến cố và tính ; áp dụng công thức .
Việc đếm và thường dùng quy tắc đếm, hoán vị, chỉnh hợp và tổ hợp. Khi phép thử gồm nhiều giai đoạn, cần xác định rõ mỗi giai đoạn có bao nhiêu kết quả và các kết quả có đồng khả năng hay không.
Một kĩ thuật quan trọng là dùng biến cố đối: khi biến cố được mô tả bằng "ít nhất một", "có ít nhất", việc đếm trực tiếp thường phức tạp, còn biến cố đối (ví dụ "không có cái nào") dễ đếm hơn. Khi đó tính rồi dùng .
Khi mô tả không gian mẫu, cần thống nhất cách ghi kết quả: ví dụ gieo hai đồng xu thì có kết quả ; rút hai thẻ từ một hộp thì kết quả là một tập con gồm hai thẻ, số kết quả là nếu thứ tự rút không quan trọng. Việc mô tả không nhất quán là nguyên nhân phổ biến gây sai sót.
2. Ví dụ minh họa
Một hộp có bi đỏ và bi xanh, lấy ngẫu nhiên bi. Tính xác suất lấy được bi đỏ.
Không gian mẫu: số cách lấy bi từ bi là .
Biến cố : "lấy được bi đỏ" có cách.
Vậy .
Dùng biến cố đối để kiểm tra xác suất "lấy được ít nhất một bi xanh": biến cố đối là "lấy được bi đỏ", có xác suất , nên xác suất cần tìm là .
3. Ghi nhớ
- Ba bước: đếm , đếm , tính .
- Đếm bằng quy tắc đếm, hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp.
- Gặp "ít nhất một" thì nghĩ ngay đến biến cố đối.
