Phạm vi: Bài 6 (Nguyễn Du), Bài 7 (Ghi chép và tưởng tượng trong kí), Bài 8 (Cấu trúc của văn bản thông tin).
Phần 1: Cơ bản
Bài 1. Nguyễn Du quê ở đâu? Ông được tôn vinh bằng danh hiệu gì?
Bài 2. Nêu tên ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
Bài 3. Truyện Kiều được viết bằng chữ gì? Gồm bao nhiêu câu thơ lục bát? (Gợi ý: 3254 câu.)
Bài 4. Nêu nội dung chính của Truyện Kiều trong khoảng 5–7 dòng.
Bài 5. Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện ở những khía cạnh nào? Nêu ba khía cạnh.
Bài 6. Nêu giá trị nghệ thuật nổi bật của Truyện Kiều.
Bài 7. Nguyễn Công Trứ sống vào thời nào? Ông làm quan dưới triều đại nào?
Bài 8. “Bài ca ngất ngưởng” thuộc thể loại nào? Nêu đặc điểm của thể loại đó.
Bài 9. Nêu hai nét tính cách của Nguyễn Công Trứ thể hiện trong “Bài ca ngất ngưởng”.
Bài 10. Kí là gì? Kể tên hai thể loại nhỏ thuộc thể kí (gợi ý: hồi kí, bút kí, phóng sự…).
Bài 11. Nêu ba yếu tố cần có trong một bài kí hay.
Bài 12. Phân biệt kí và hồi kí: nêu một điểm giống và một điểm khác.
Bài 13. Văn bản thông tin là gì? Nêu mục đích chính của văn bản thông tin.
Bài 14. Nêu cấu trúc thường gặp của văn bản thông tin.
Bài 15. Sa-pô là gì? Nêu tác dụng của sa-pô trong văn bản thông tin.
Bài 16. Nêu ba đặc điểm về ngôn ngữ của văn bản thông tin.
Phần 2: Nâng cao
Bài 17. Phân tích ngắn gọn (10–12 dòng) giá trị nhân đạo của Truyện Kiều qua số phận nhân vật Thúy Kiều.
Bài 18. So sánh cách thể hiện cái tôi của Nguyễn Du (qua Truyện Kiều) và Nguyễn Công Trứ (qua “Bài ca ngất ngưởng”).
Bài 19. Đọc đoạn văn sau (tự viết) và trả lời câu hỏi:
Chiều hôm ấy, tôi đứng trên đồi nhìn xuống thị trấn nhỏ. Những mái nhà chen nhau trong làn khói lam chiều. Một đàn chim bay về tổ, tiếng chuông chùa xa xa vang lên. Bỗng tôi thấy lòng mình bình yên đến lạ – như thể mọi ồn ào của phố thị đã ở lại phía sau lưng.
Câu hỏi: Đoạn văn trên có phải là một đoạn kí không? Vì sao? Chỉ ra yếu tố ghi chép và yếu tố cảm xúc, tưởng tượng.
Bài 20. Một bạn học sinh viết một bài kí về chuyến tham quan nhưng bịa ra một nhân vật không có thật để câu chuyện thêm hấp dẫn. Em có đồng ý với cách làm đó không? Vì sao?
Bài 21. Đọc văn bản thông tin sau (tự viết) và thực hiện yêu cầu:
Tập thể dục buổi sáng – thói quen tốt cho sức khỏe
Tập thể dục buổi sáng giúp cơ thể tỉnh táo, tăng cường sức khỏe và cải thiện tinh thần. Các chuyên gia khuyến cáo mỗi người nên dành ít nhất 30 phút mỗi ngày để vận động.
Một số bài tập đơn giản buổi sáng gồm: đi bộ, chạy bộ nhẹ, yoga và các bài tập giãn cơ. Điều quan trọng là duy trì đều đặn và chọn bài tập phù hợp với thể trạng của mình.
Yêu cầu: Xác định nhan đề, sa-pô (nếu có), các ý chính và nêu hai đặc điểm của văn bản thông tin.
Bài 22. Viết một văn bản thông tin ngắn (khoảng 10–12 dòng) giới thiệu về lợi ích của việc đọc sách. Chú ý cấu trúc: nhan đề, mở đầu, triển khai, kết luận.
Bài 23. Phân biệt văn bản thông tin và văn bản nghị luận: nêu hai điểm khác nhau cơ bản và lấy ví dụ cho mỗi loại.
Bài 24. Đọc văn bản sau (tự viết) và cho biết nó thuộc thể loại nào, vì sao:
Tôi gặp ông Hai vào một buổi chiều mưa. Ông kể cho tôi nghe về những năm tháng làm nghề đánh cá trên sông. Giọng ông trầm ấm, đôi mắt nhìn xa xăm như đang thấy lại con sông năm nào. Nghe ông kể, tôi hiểu thêm về một thời đã qua và về những con người gắn bó cả đời với dòng sông.
Đáp án
Bài 1. Quê: Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Danh hiệu: Đại thi hào dân tộc. Bài 2. Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Bài 3. Chữ Nôm; 3254 câu thơ lục bát. Bài 4. (Hướng dẫn) Truyện Kiều kể về cuộc đời Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn, vì gia đình phải bán mình chuộc cha, lưu lạc qua nhiều chặng đường đầy tủi nhục, cuối cùng được đoàn tụ. Qua đó, Nguyễn Du phản ánh xã hội phong kiến bất công và thể hiện tấm lòng nhân đạo. Bài 5. Xót thương, đồng cảm với con người, nhất là người phụ nữ; tố cáo xã hội bất công chà đạp tài năng, nhân phẩm; đề cao khát vọng hạnh phúc, nhân phẩm con người; ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người. Bài 6. Ngôn ngữ thơ lục bát điêu luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu; nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế; nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu truyện chặt chẽ. Bài 7. Thế kỷ XVIII–XIX, thời nhà Nguyễn. Bài 8. Thể hát nói. Đặc điểm: là thể thơ – nhạc, dùng để hát, câu thơ dài ngắn linh hoạt, thường có câu thơ lục bát xen lẫn, giọng điệu tự do, phóng khoáng. Bài 9. Tự tin, khẳng định tài năng, bản lĩnh; sống tự do, phóng khoáng, không để danh lợi trói buộc; có trách nhiệm với đất nước khi làm quan. Bài 10. Kí là thể loại văn xuôi tự sự, ghi lại sự thật mà người viết đã chứng kiến hoặc trải qua, kết hợp tưởng tượng, cảm xúc, suy ngẫm. Hai thể loại nhỏ: hồi kí, bút kí (hoặc phóng sự, nhật kí…). Bài 11. Sự thật xác thực; tưởng tượng, cảm xúc làm cho sự thật sinh động; suy ngẫm, tư tưởng gửi gắm trong tác phẩm. Bài 12. Giống: đều dựa trên sự thật, người viết là người trong cuộc hoặc chứng kiến. Khác: hồi kí chủ yếu kể lại chuyện đã qua trong cuộc đời mình; kí có phạm vi rộng hơn, có thể ghi chép về con người, sự việc, cảnh vật ở hiện tại. Bài 13. Văn bản thông tin là văn bản cung cấp tri thức, thông tin chính xác, khách quan về một vấn đề, sự vật, hiện tượng. Mục đích: giúp người đọc hiểu biết, nắm được thông tin cần thiết. Bài 14. Nhan đề – Sa-pô (mở đầu) – Thân bài (triển khai theo các đề mục) – Kết luận. Bài 15. Sa-pô là đoạn mở đầu ngắn, tóm tắt nội dung chính của văn bản. Tác dụng: giúp người đọc nắm nhanh nội dung chính, thu hút người đọc. Bài 16. Chính xác, rõ ràng, khách quan; ít dùng từ ngữ biểu cảm; dùng thuật ngữ chuyên môn khi cần; có thể kèm số liệu, bảng biểu, hình ảnh minh họa. Bài 17. (Hướng dẫn) Qua số phận Thúy Kiều, Nguyễn Du thể hiện lòng xót thương sâu sắc với người phụ nữ tài hoa bạc mệnh; tố cáo xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người vào bi kịch; đề cao nhân phẩm, khát vọng hạnh phúc và tình yêu, lòng hiếu thảo của con người. Bài 18. (Hướng dẫn) Nguyễn Du thể hiện cái tôi qua lòng nhân đạo, sự đồng cảm, xót thương (cái tôi trữ tình – nhân đạo). Nguyễn Công Trứ thể hiện cái tôi qua giọng điệu ngạo nghễ, khẳng định tài năng, bản lĩnh, lối sống tự do (cái tôi khẳng định, tự ý thức). Cả hai đều là những cái tôi mạnh mẽ, không hòa tan. Bài 19. Có thể coi là một đoạn kí (bút kí) vì: ghi chép sự việc có thật (đứng trên đồi nhìn thị trấn, khói lam, chim bay, chuông chùa); kết hợp cảm xúc, suy ngẫm (“lòng mình bình yên đến lạ”). Tuy nhiên, để khẳng định chắc chắn cần biết người viết có thực chứng kiến hay không – kí đòi hỏi sự thật. Bài 20. Không đồng ý. Bịa ra nhân vật không có thật là xuyên tạc sự thật, làm mất tính xác thực của kí. Muốn hấp dẫn, người viết nên dùng tưởng tượng, miêu tả, cảm xúc để làm nổi bật sự thật, chứ không bịa đặt sự thật. Bài 21. Nhan đề: “Tập thể dục buổi sáng – thói quen tốt cho sức khỏe”. Không có sa-pô riêng; đoạn đầu giới thiệu lợi ích, đoạn sau nêu các bài tập và lời khuyên. Các ý chính: (1) Lợi ích của tập thể dục buổi sáng; (2) Các bài tập đơn giản và nguyên tắc duy trì. Hai đặc điểm: cung cấp tri thức khách quan, hữu ích; ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc. Bài 22. (Chấm theo mức độ: có nhan đề, mở đầu, triển khai ý, kết luận; thông tin chính xác, ngôn ngữ rõ ràng.) Bài 23. Khác nhau: (1) Mục đích: văn bản thông tin cung cấp tri thức khách quan; văn bản nghị luận bày tỏ quan điểm, thuyết phục. (2) Cách triển khai: văn bản thông tin trình bày sự thật, số liệu; văn bản nghị luận dùng luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng. Ví dụ: bài viết giới thiệu về rừng ngập mặn (thông tin); bài văn bàn về lối sống tích cực (nghị luận). Bài 24. Thuộc thể kí (bút kí): ghi lại cuộc gặp gỡ có thật, người viết là người trong cuộc (“Tôi gặp ông Hai…”), kết hợp ghi chép (lời kể của ông Hai) với cảm xúc, suy ngẫm (“tôi hiểu thêm về một thời đã qua…”).
