Phạm vi: Bài 1–5 (Môn địa lí; bản đồ; Trái Đất và vỏ Trái Đất; hệ quả các chuyển động của Trái Đất)
Phần 1: Cơ bản
Bài 1. Môn Địa lí nghiên cứu đối tượng nào? Nêu hai biểu hiện của mối quan hệ giữa tự nhiên và con người mà Địa lí quan tâm.
Bài 2. Kể tên ba năng lực mà môn Địa lí giúp học sinh hình thành.
Bài 3. Nêu hai nghề nghiệp liên quan đến kiến thức địa lí và mô tả ngắn gọn công việc của mỗi nghề.
Bài 4. Bản đồ là gì? Nêu hai vai trò của bản đồ trong học tập.
Bài 5. Trên bản đồ tỉ lệ 1 : 1 000 000, khoảng cách 4 cm trên bản đồ ứng với bao nhiêu km trên thực địa?
Bài 6. Trên bản đồ tỉ lệ 1 : 500 000, khoảng cách thực địa 25 km được biểu hiện bằng bao nhiêu cm trên bản đồ?
Bài 7. Phương pháp kí hiệu dùng để biểu hiện đối tượng địa lí nào? Cho hai ví dụ.
Bài 8. Phương pháp chấm điểm dùng để biểu hiện đối tượng địa lí nào? Cho ví dụ.
Bài 9. Phương pháp đường chuyển động dùng để biểu hiện đối tượng địa lí nào? Cho ví dụ.
Bài 10. Nêu hai ứng dụng của GPS trong đời sống.
Bài 11. Bản đồ số có ưu điểm gì so với bản đồ giấy? Nêu hai ưu điểm.
Bài 12. Vỏ Trái Đất dày khoảng bao nhiêu? Nêu hai điểm khác nhau giữa vỏ lục địa và vỏ đại dương.
Bài 13. Trái Đất tự quay quanh trục theo hướng nào, hết bao nhiêu thời gian?
Bài 14. Giải thích hiện tượng ngày và đêm luân phiên trên Trái Đất.
Bài 15. Vì sao các địa phương nằm trên các kinh tuyến khác nhau có giờ địa phương khác nhau?
Bài 16. Vào ngày 21 – 3 và 23 – 9, hiện tượng gì xảy ra về độ dài ngày – đêm trên toàn cầu?
Phần 2: Nâng cao
Bài 17. Hai thành phố A và B nằm trên cùng một vĩ tuyến, cách nhau 15° kinh tuyến. Nếu ở A là 10 giờ thì ở B là mấy giờ, biết B nằm ở phía đông A? Giải thích cách tính.
Bài 18. Một chuyến bay cất cánh từ Hà Nội (105°Đ) lúc 8 giờ sáng, bay 5 giờ thì đến Luân Đôn (0°). Hỏi khi máy bay đến nơi, đồng hồ ở Luân Đôn chỉ mấy giờ? (Bỏ qua giờ mùa hè.)
Bài 19. Giải thích vì sao vào mùa hạ ở bán cầu Bắc ngày dài hơn đêm, còn ở bán cầu Nam ngày ngắn hơn đêm.
Bài 20. Vì sao ở vùng cực có hiện tượng ngày cực và đêm cực? Hiện tượng này kéo dài bao lâu ở cực Bắc?
Bài 21. Một học sinh nói: "Mùa hạ nóng vì Trái Đất gần Mặt Trời hơn mùa đông". Em có đồng ý không? Vì sao?
Bài 22. So sánh phương pháp kí hiệu và phương pháp khoanh vùng: mỗi phương pháp phù hợp với loại đối tượng địa lí nào? Cho ví dụ.
Bài 23. Dùng bản đồ Atlat Địa lí Việt Nam, em hãy nêu hai thông tin có thể đọc được về tỉnh nơi em sinh sống (vị trí, địa hình hoặc khí hậu).
Bài 24. Trình bày hai cách con người ứng dụng kiến thức về chuyển động của Trái Đất vào đời sống (ví dụ: múi giờ, lịch, nông nghiệp).
Đáp án
Bài 1. Địa lí nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, kinh tế – xã hội và mối quan hệ giữa chúng trên bề mặt Trái Đất. Ví dụ: con người khai thác khoáng sản làm thay đổi địa hình; biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Bài 2. Ba năng lực: nhận thức khoa học địa lí; tìm hiểu địa lí; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn.
Bài 3. Ví dụ: giáo viên Địa lí (dạy học), kĩ sư trắc địa – bản đồ (đo đạc, vẽ bản đồ), nhà khí tượng (dự báo thời tiết), hướng dẫn viên du lịch (giới thiệu địa danh).
Bài 4. Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ một phần hay toàn bộ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng, theo tỉ lệ và hệ thống kí hiệu nhất định. Vai trò: giúp nhận biết vị trí, sự phân bố các đối tượng địa lí; hỗ trợ tìm đường, quy hoạch, phòng chống thiên tai.
Bài 5. 1 cm = 10 km → 4 cm = 40 km.
Bài 6. 1 cm = 5 km → 25 km = 5 cm.
Bài 7. Phương pháp kí hiệu biểu hiện các đối tượng phân bố theo điểm. Ví dụ: thủ đô, nhà máy, mỏ khoáng sản, sân bay.
Bài 8. Phương pháp chấm điểm biểu hiện các đối tượng phân tán, nhỏ lẻ. Ví dụ: phân bố dân cư, phân bố cây lúa, đàn gia súc.
Bài 9. Phương pháp đường chuyển động biểu hiện sự di chuyển của các hiện tượng. Ví dụ: hướng gió, dòng biển, luồng di dân, tuyến giao thông.
Bài 10. Dẫn đường bằng điện thoại; theo dõi vị trí phương tiện; xác định vị trí khi cứu hộ, cứu nạn; khảo sát đất đai.
Bài 11. Ưu điểm: cập nhật nhanh; chồng xếp, phân tích dữ liệu; phóng to, thu nhỏ linh hoạt; dễ chia sẻ.
Bài 12. Vỏ Trái Đất dày khoảng 5–70 km. Vỏ lục địa dày (35–40 km, có nơi 70 km), gồm tầng granit và ba-dan; vỏ đại dương mỏng (5–10 km), chỉ có tầng ba-dan.
Bài 13. Trái Đất tự quay từ Tây sang Đông, hết 23 giờ 56 phút 4 giây (một ngày sao), tương đương khoảng 24 giờ (một ngày Mặt Trời).
Bài 14. Do Trái Đất tự quay quanh trục, nửa được Mặt Trời chiếu sáng là ban ngày, nửa còn lại là ban đêm; khi Trái Đất quay, các địa phương lần lượt chuyển từ ngày sang đêm và ngược lại.
Bài 15. Vì Trái Đất tự quay từ Tây sang Đông nên các địa phương ở phía đông thấy Mặt Trời mọc sớm hơn, giờ địa phương sớm hơn; mỗi 15° kinh tuyến chênh nhau 1 giờ.
Bài 16. Ngày 21 – 3 (xuân phân) và 23 – 9 (thu phân): ngày bằng đêm trên toàn cầu, vì tia sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc vào xích đạo.
Bài 17. Chênh 15° kinh tuyến = 1 giờ. B ở phía đông nên sớm hơn A 1 giờ → B là 11 giờ.
Bài 18. Chênh lệch giờ: 105° : 15 = 7 giờ. Luân Đôn chậm hơn Hà Nội 7 giờ. Máy bay bay 5 giờ → khi đến nơi, Hà Nội là 13 giờ, Luân Đôn là 13 − 7 = 6 giờ sáng.
Bài 19. Mùa hạ bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, thời gian chiếu sáng dài hơn, ngày dài hơn đêm; cùng lúc bán cầu Nam chếch xa Mặt Trời, thời gian chiếu sáng ngắn hơn, ngày ngắn hơn đêm.
Bài 20. Do trục Trái Đất nghiêng và chuyển động quanh Mặt Trời, vùng cực có thời gian Mặt Trời không lặn (ngày cực) hoặc không mọc (đêm cực). Ở cực Bắc, ngày cực và đêm cực mỗi hiện tượng kéo dài khoảng 6 tháng.
Bài 21. Không đồng ý. Nguyên nhân chính của mùa là trục Trái Đất nghiêng và không đổi phương khi chuyển động quanh Mặt Trời, làm góc nhập xạ và thời gian chiếu sáng thay đổi theo mùa. (Thực tế Trái Đất gần Mặt Trời nhất vào đầu tháng 1, khi Bắc bán cầu đang là mùa đông.)
Bài 22. Phương pháp kí hiệu: đối tượng phân bố theo điểm (thủ đô, mỏ). Phương pháp khoanh vùng: đối tượng phân bố theo vùng (vùng trồng lúa, vùng phân bố một loại đất, vùng khí hậu).
Bài 23. Học sinh tự nêu theo tỉnh của mình, ví dụ: vị trí tỉnh, dạng địa hình chủ yếu, đặc điểm khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa trung bình năm).
Bài 24. Ví dụ: dùng múi giờ để tính giờ quốc tế khi đi lại, giao dịch; dùng lịch (âm lịch, dương lịch) gắn với chuyển động của Trái Đất và Mặt Trăng để bố trí mùa vụ nông nghiệp.
