Tổng của hai vectơ a và b, kí hiệu a+b, được xác định bằng quy tắc ba điểm hoặc quy tắc hình bình hành. Quy tắc ba điểm: với ba điểm tùy ý A,B,C, ta có AB+BC=AC. Quy tắc hình bình hành: nếu ABCD là hình bình hành thì AB+AD=AC.
Tổng hai vectơ có các tính chất: giao hoán a+b=b+a, kết hợp (a+b)+c=a+(b+c), và a+0=a.
Hiệu của hai vectơ a và b, kí hiệu a−b, được định nghĩa là a+(−b). Với ba điểm tùy ý O,A,B, ta có OB−OA=AB. Đây là công thức rất quan trọng để chuyển đổi giữa các vectơ.
Quy tắc trung điểm: nếu M là trung điểm của đoạn thẳng AB thì MA+MB=0, và với điểm O tùy ý, OM=21(OA+OB). Quy tắc trọng tâm: nếu G là trọng tâm của tam giác ABC thì GA+GB+GC=0.
2. Ví dụ minh họa
Ví dụ 1. Cho hình bình hành ABCD. Chứng minh rằng AC=AB+AD.
Giải. Theo quy tắc hình bình hành, đường chéo AC bằng tổng của hai vectơ cạnh kề AB và AD.
Ví dụ 2. Cho tam giác ABC, gọi M là trung điểm của BC. Chứng minh AM=21(AB+AC).
Giải. Vì M là trung điểm của BC nên MB+MC=0. Ta có AB+AC=(AM+MB)+(AM+MC)=2AM+(MB+MC)=2AM. Vậy AM=21(AB+AC).
3. Ghi nhớ
Quy tắc ba điểm: AB+BC=AC.
Quy tắc hiệu: OB−OA=AB (lấy điểm cuối trừ điểm đầu).
Trung điểm: MA+MB=0; trọng tâm: tổng ba vectơ bằng vectơ-không.