- Phạm vi: Bài 17 – Bài 22 (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng; Trưng Vương và kháng chiến chống Hán; Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế; Khởi nghĩa Lý Bí, nước Vạn Xuân)
Phần 1: Cơ bản
Bài 1. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ vào năm nào? Ai là người lãnh đạo?
Bài 2. Nêu nguyên nhân bùng nổ khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Bài 3. Sau thắng lợi, Trưng Vương đã xây dựng chính quyền như thế nào?
Bài 4. Nhà Hán cử ai sang đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng? Kết quả ra sao?
Bài 5. Kể tên 3 cuộc khởi nghĩa sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế.
Bài 6. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu diễn ra năm nào? Tại đâu? Kết quả ra sao?
Bài 7. Khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ năm nào? Tại đâu?
Bài 8. Nêu nguyên nhân bùng nổ khởi nghĩa Lý Bí.
Bài 9. Kể tên những tướng lĩnh tiêu biểu của nghĩa quân Lý Bí.
Bài 10. Năm 544, Lý Bí đã làm gì? Ý nghĩa của sự kiện này?
Bài 11. Lý Bí đặt quốc hiệu, niên hiệu và đóng đô ở đâu?
Bài 12. Sau khi Lý Bí mất, ai tiếp tục lãnh đạo kháng chiến? Người đó chọn căn cứ ở đâu?
Bài 13. Triệu Quang Phục lên ngôi vua năm nào? Xưng là gì?
Bài 14. Nước Vạn Xuân tồn tại trong khoảng thời gian nào?
Bài 15. Nêu ý nghĩa lịch sử của việc lập nước Vạn Xuân.
Bài 16. Vì sao khởi nghĩa Lý Bí giành được thắng lợi?
Bài 17. Trình bày diễn biến chính của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Bài 18. Nêu ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Phần 2: Nâng cao
Bài 19. So sánh khởi nghĩa Hai Bà Trưng và khởi nghĩa Lý Bí (lãnh đạo, thời gian, kết quả, ý nghĩa).
Bài 20. Vì sao nói việc lập nước Vạn Xuân là bước phát triển mới trong phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc?
Bài 21. Phân tích chiến thuật của Triệu Quang Phục khi chọn đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến.
Bài 22. Vì sao nước Vạn Xuân sụp đổ vào năm 602? Rút ra bài học gì?
Bài 23. Em hiểu thế nào về tên nước "Vạn Xuân"? Tên nước này thể hiện khát vọng gì của nhân dân ta?
Bài 24. Hãy viết một đoạn văn ngắn (7–10 câu) giới thiệu về Lý Bí và nước Vạn Xuân.
Bài 25. Theo em, nếu Lý Bí không mất sớm, nước Vạn Xuân có thể phát triển như thế nào? (Nêu suy nghĩ của em.)
Bài 26. Sưu tầm một câu chuyện dân gian hoặc giai thoại về Lý Bí, Triệu Quang Phục và kể lại.
Đáp án
Phần 1:
- Mùa xuân năm 40; Hai Bà Trưng (Trưng Trắc, Trưng Nhị).
- Nhà Hán cai trị tàn bạo, bóc lột nặng nề, đồng hóa dân tộc ta; Thi Sách bị Tô Định giết hại; lòng yêu nước và ý chí giành độc lập của nhân dân đã chín muồi.
- Trưng Trắc lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh, phong chức tước cho người có công, xây dựng chính quyền tự chủ.
- Mã Viện (năm 42); đến năm 43 nghĩa quân thất bại, Hai Bà Trưng tuẫn tiết tại sông Hát Giang.
- Khởi nghĩa Chu Đạt (157), Lương Long (178 – 181), Bà Triệu (248).
- Năm 248, tại núi Nưa (Thanh Hóa); thất bại do lực lượng chênh lệch.
- Năm 542, tại Thái Bình (Long Hưng).
- Nhà Lương cai trị tàn bạo, thứ sử Tiêu Tư vơ vét của cải, bắt dân nộp cống phẩm quý hiếm.
- Tinh Thiều, Triệu Túc, Phạm Tu, Triệu Quang Phục...
- Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, lập nước Vạn Xuân. Đây là lần đầu tiên nhân dân ta tự xây dựng nhà nước độc lập với quốc hiệu, niên hiệu riêng.
- Quốc hiệu: Vạn Xuân; niên hiệu: Thiên Đức; đóng đô: Long Biên.
- Triệu Quang Phục; căn cứ đầm Dạ Trạch (Hưng Yên).
- Năm 548; xưng Triệu Việt Vương.
- Từ năm 544 đến năm 602.
- Khẳng định quyền làm chủ đất nước, ý chí độc lập tự cường của dân tộc; cổ vũ phong trào đấu tranh giành độc lập trong các thế kỉ sau.
- Được nhân dân ủng hộ rộng rãi; có sự chuẩn bị chu đáo; lãnh đạo tài giỏi; quân Lương suy yếu.
- Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa tại Hát Môn, nhanh chóng chiếm Mê Linh, Cổ Loa, Luy Lâu, làm chủ Giao Châu. Trưng Trắc lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh. Năm 42, Mã Viện sang đàn áp, năm 43 nghĩa quân thất bại.
- Thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh của nhân dân ta; là cuộc khởi nghĩa đầu tiên do phụ nữ lãnh đạo; cổ vũ phong trào đấu tranh giành độc lập sau này.
Phần 2:
- Giống nhau: đều chống phong kiến phương Bắc, được nhân dân ủng hộ, giành thắng lợi bước đầu. Khác nhau: Hai Bà Trưng (năm 40, lãnh đạo là phụ nữ, tồn tại 3 năm, chưa lập được nhà nước hoàn chỉnh); Lý Bí (năm 542, lập nước Vạn Xuân, tồn tại gần 60 năm).
- Vì lần đầu tiên nhân dân ta không chỉ đánh đuổi giặc mà còn tự xây dựng một nhà nước độc lập hoàn chỉnh với quốc hiệu, niên hiệu, kinh đô, chứng tỏ trình độ tổ chức và ý thức độc lập đã cao hơn.
- Đầm Dạ Trạch là vùng đầm lầy hiểm trở, lau sậy um tùm, thuận lợi cho đánh du kích, ẩn náu; quân Lương đông nhưng không quen địa hình, khó tiến công, bị tiêu hao dần.
- Do nội bộ Vạn Xuân mâu thuẫn, chia rẽ (Lý Phật Tử tranh quyền với Triệu Quang Phục), trong khi nhà Tùy mạnh lên và xâm lược. Bài học: phải giữ vững đoàn kết nội bộ, xây dựng lực lượng mạnh.
- "Vạn Xuân" nghĩa là vạn mùa xuân, thể hiện khát vọng đất nước mãi mãi độc lập, tươi đẹp, trường tồn như mùa xuân.
- (Tự viết theo hiểu biết: Lý Bí quê Thái Bình, khởi nghĩa năm 542, lập nước Vạn Xuân năm 544...)
- (Tự do, theo suy nghĩ: Vạn Xuân có thể củng cố, mở rộng, phát triển kinh tế, văn hóa...)
- (Tự sưu tầm, kể lại giai thoại: ví dụ chuyện Lý Bí và con ngựa thần, Triệu Quang Phục nhận móng vuốt rồng...)
