1. Kiến thức trọng tâm
Base là hợp chất mà phân tử gồm một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hydroxide (). Khi tan trong nước, base phân li ra ion kim loại và ion hydroxide (). Ví dụ: natri hydroxide , canxi hydroxide (nước vôi trong), amoniac . Dung dịch base làm quỳ tím chuyển sang màu xanh và làm dung dịch phenolphtalein chuyển sang màu hồng.
Base có tính chất chung: tác dụng với acid tạo thành muối và nước, phản ứng này gọi là phản ứng trung hòa. Ví dụ: . Base còn tác dụng với một số oxide acid và dung dịch muối. Các base tan như , có tính ăn mòn cao, gây bỏng da, cần dùng cẩn thận.
Thang pH dùng để đo độ acid hay độ base của dung dịch, có giá trị từ 0 đến 14. Dung dịch có là trung tính (như nước tinh khiết); pH < 7 là dung dịch acid, pH càng nhỏ thì tính acid càng mạnh; pH > 7 là dung dịch base, pH càng lớn thì tính base càng mạnh. Giấy pH hoặc máy đo pH được dùng để xác định pH của dung dịch.
2. Ví dụ minh họa
Ví dụ: Nước chanh có pH khoảng 2–3 nên có tính acid; nước xà phòng có pH khoảng 9–10 nên có tính base; nước tinh khiết có pH bằng 7 nên trung tính. Khi nhỏ dung dịch vào dung dịch có quỳ tím, màu đỏ của quỳ tím nhạt dần rồi chuyển sang xanh khi base dư, chứng tỏ phản ứng trung hòa đã xảy ra và dung dịch chuyển từ môi trường acid sang môi trường base.
3. Ghi nhớ
- Phân tử base gồm kim loại liên kết với nhóm ; dung dịch base làm quỳ tím chuyển xanh.
- Phản ứng trung hòa: base + acid → muối + nước.
- Thang pH từ 0 đến 14: pH < 7 là acid, là trung tính, pH > 7 là base.
